God is not a puzzle to solve, but a love we learn to trust. Like a child leaping into a father's arms at the pool, we are invited into the deep, relational love of the Father, Son, and Holy Spirit. This Trinity Sunday, let’s stop debating the doctrine and start living the pattern of divine love—through forgiveness, unity, and peace. ✨
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải
chết, nhưng để được sống muôn đời”. Trong cuộc đàm đạo với ông Ni-cô-đê-mô là thành viên
của Công nghị Do Thái, Chúa Giê-su đã mặc khải về Chúa Cha và về chương trình cứu độ của
Ngài.
Anh chị em thân mến! Ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống kết thúc mùa Phục Sinh. Biến cố Chúa
Thánh Thần hiện xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần đã làm thay đổi con người các tông đồ. Chúa Thánh
Thần ban cho các ông một sức sống mới từ Thiên Chúa. Kể từ giây phút đó, các ông đã đứng lên rao
giảng về Đức Kitô Phục Sinh, Hội Thánh được khai sinh và bắt đầu đi đến tận cùng trái đất, một Hội
Thánh luôn luôn có Chúa Thánh Thần hiện diện.
Lễ Thăng Thiên vừa nhắc đến một mầu nhiệm và vừa nói đến quyền năng vươn tới một chiều kích mới.
Lễ này chấm hết sứ vụ Đức Kitô ở trần gian và mừng đón Chúa vinh hiển trở về cùng Chúa Cha trên trời.
Mặc dù là hành động cuối cùng của Chúa trên dương thế, hôm nay không phải là một ngày buồn trái lại là
một ngày vui, chan chứa hy vọng. Đức Kitô không còn tự giới hạn mình vào một khoảng thời gian,
khoảng không gian, hay một nhóm người nào nữa. Nhờ sức mạnh của Thần Khí, Người hiện diện vô hình
và sẵn sàng đến với bất cứ ai muốn tiếp súc, muốn chia sẻ vinh quang với Người. “Thầy ở đâu anh em sẽ
ở đó”.
Anh chị em thân mến, Chúng ta đang sống tuần cuối của mùa Phục Sinh. Bài Tin Mừng cho chúng ta
thấy Chúa Giêsu chuẩn bị cho các Tông Đồ đón nhận Chúa Thánh Thần. Thánh Thần vẫn đồng hành
với Đức Kitô trên đường khổ giá và cho Ngài sống lại. Bốn mươi ngày tại thế, Chúa Kitô tập cho các
Tông Đồ quen dần với sự vắng mặt của Ngài, để khi Ngài về trời các ông sẽ không cảm thấy hụt hẫng,
nên thỉnh thoảng Ngài mới hiện ra với các ông. Hôm nay Ngài loan báo cho các ông về việc Ngài sẽ ra
đi để về với Chúa Cha, nhưng sẽ không để các ông mồ côi. Lời hứa ấy làm cho các ông an tâm. Cùng
với các Tông Đồ chúng ta cũng hãy dọn mình để lãnh nhận biến cố trọng đại này với tâm tình chờ đợi
trong tin yêu và cậy trông. Không nản chí khi gặp đau khổ, không thất vọng khi gặp khó khăn. Để được
như thế, mỗi người chúng ta hãy sống trong sạch, tuân giữ giới luật Chúa và nhất là hoán cải hàng ngày.
Bài Tin mừng Chúa nhật V Phục sinh đưa chúng ta trở lại với phòng tiệc ly. Trong bầu không khí trầm buồn,
các môn đệ đã cảm nhận được cuộc thương khó của Thầy mình. Trả lời cho câu hỏi của ông Phê-rô: Thày đi
đâu vậy?”, Chúa Giê-su nói: “Nơi Thầy đi bây giờ, anh không thể theo đến được”. Dường như giữa thày trò
có điều không hiểu nhau. Một đàng là Phê-rô dứt khoát đoan hứa trung thành, đàng khác Chúa lại báo trước
ông sẽ chối Người. Các ông thực sự chưa hiểu những gì Chúa nói. Chính trong bối cảnh này, Chúa Giê-su
trấn an các môn đệ: Lòng các con đừng xao xuyến.
Hôm nay Chúa Nhật IV Phục Sinh, là ngày Giáo Hội mời gọi chúng ta cầu nguyện cách riêng cho ơn thiên
triệu, tức là cầu nguyện cho có nhiều tâm hồn nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của Chúa làm linh mục hoặc tu
sĩ nam nữ để rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho mọi người ... Giới trẻ hôm nay không thiếu lòng quảng
đại, không thiếu lý tưởng và những ước mơ cao cả. Họ cần có ai đó giúp họ gặp được Đức Giêsu, say mê
con người Ngài, và chia sẻ nỗi bận tâm của Ngài về thế giới. Họ cần có ai đó giúp họ nghe được tiếng kêu
của bao người đói khát chân lý và công lý, giúp họ cảm nhận được bổn phận lớn lao là xây dựng trái đất
thành mái ấm yêu thương. Giới trẻ cần những người thầy, người bạn dám sống điều mình tin giữa muôn
vàn khó khăn và giúp họ đứng vững trước cơn lốc của cám dỗ. Mỗi người cần phải cầu nguyện và cũng cần
phải canh tân cuộc sống.
Anh chị em thân mến! Chúa Kitô sống lại, Ngài khải hoàn vinh hiển, mở lại cửa Thiên Đàng cho
nhân loại. Qua cái chết khổ nhục rồi được sống lại Ngài dậy chúng ta tín thác vào Ngài. Khi thật
sự tín thác vào Ngài, chúng ta sẽ vui sống, tin tưởng đặt trọn tương lai vào Ngài. Ngài đặt trong
tâm hồn chúng ta lòng ao ước được chia sẻ sự sống vĩnh cửu với Ngài. Hai môn đệ trên đường
Emmau hôm nay, đang buồn chán nhưng khi có Chúa đồng hành và được nghe Ngài giao huấn,
tâm hồn các ông đã bừng nóng lên, dầu chưa nhận ra Ngài vì mắt các ông còn bị che phủ. Trong
cuộc sống của chúng ta, tội lỗi cũng làm che phủ con mắt đức tin, nên nhiều khi chúng ta cũng chán
nản khi gặp những thất bại, đau khổ. Trên con đường lữ thứ trần gian tiến về Nước Trời, dù có đen
tối, đau buồn, chia ly và thất vọng đến đâu đi chăng nữa, thì Người vẫn luôn ở bên ta, đồng hành
với ta, an ủi và nâng đỡ ta, ban ơn soi trí mở lòng cho ta, để ta nhận ra được ý nghĩa của khổ đau
mà can đảm vững bước theo Người đến cùng. Quả thật, Chúa Ki-tô tử nạn và phục sinh vẫn luôn
ở bên ta mọi nơi mọi lúc. Khi thành công, vui vẻ và hạnh phúc cũng như lúc ta thất bại, khổ đau và
bất hạnh, không lúc nào Chúa không ở bên ta, bởi Người là “Đấng Em-ma-nu-el” luôn ở cùng và ở
giữa nhân loại cho đến mãi muôn đời. Chớ gì mọi người Ki-tô hữu luôn xác tin như vậy, để dù ăn
uống, làm việc, học hành, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay làm bất cứ việc gì, chúng ta hãy sống và
làm việc cho sáng danh Chúa, chứ đừng như những kẻ không tin Chúa. Người tin Chúa là người
cùng làm việc, cùng học hành, cùng vui chơi, cùng đau khổ và cùng hạnh phúc với Chúa, như
thánh Phao-lô tông đồ đã từng thốt lên rằng: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà là Đức
Giê-su Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Anh chị em thân mến, Ngày trọng đại, vui mừng và mang nhiều ý nghĩa nhất của Kitô giáo đó là
ngày đại lễ Phục Sinh hôm nay. Chính ngày hôm nay, làm cho tất cả các ngày lễ khác có ý nghĩa,
kể cả lễ Giáng Sinh. Nếu Chúa không sống lại từ cõi chết thì như Thánh Phaolô Tông Đồ nói: tất cả
nền tảng đức tin của chúng ta hoàn toàn sụp đổ, vô ý nghĩa và cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trở
thành một tin buồn chứ không phải Tin Vui. Sự Phục Sinh của Chúa cho chúng ta thấy rõ tình yêu
mạnh hơn sự chết và tội lỗi của con người. Chúa Kitô sống lại, Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng
sống lại với Ngài để đem niềm tin yêu Phục Sinh này đến cho mọi người, đó chính là nguồn mạch
của yêu thương. Vì thế, tiếng nói cuối cùng không phải là của sự dữ và tội ác, mà là lòng xót
thương và tha thứ của Thiên Chúa. Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu đã đổi mới tâm hồn tội lỗi của
chúng ta trở nên đền thờ của Ngài, làm cho cuộc sống của chúng ta tràn đầy niềm tin và hy vọng.
Khi trỗi dậy khỏi nấm mồ tăm tối, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng cho nhân loại. Quả vậy, qua sự
phục sinh sáng láng của Người, chúng ta nhìn thấy tương lai của chính mình. Tương lai đó là sự
phục sinh thân xác vào ngày tận cùng của thời gian. Tương lai đó cũng là sự sống vĩnh cửu Chúa
dành cho những ai tin cậy, phó thác và yêu mến Người. Cuộc phục sinh của Chúa cũng nói với
chúng ta về phẩm giá của con người. Bởi lẽ con người được dựng nên giống hình ảnh của Thiên
Chúa. “Trỗi dậy” trong ngày lễ Phục sinh, chính là thay đổi quan niệm khô khan và buồn tẻ về cuộc
sống, để cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho ta sự sống, ban cho ta gia đình và những người bạn bè để
chia sẻ yêu thương. “Trỗi dậy” cũng chính là những nỗ lực cố gắng để cùng với mọi người xây
dựng một xã hội nhân ái, chứa chan tình Chúa và thấm đậm tình người.
Đức Giê-su khẩn cầu: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này”. Chén là một hình ảnh
Kinh Thánh để chỉ một sự thử thách, một vận mệnh đau khổ. Chúng ta không loại trừ rằng chén gợi lên chén máu
lễ tế xóa tội (máu tế vật được đựng trong chén và tưới trên bàn thờ). “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý
Cha”. Đức Giê-su không phó mặc cuộc chiến nội tâm mà đối tượng là vâng phục hay không vâng phục thánh ý
Cha Ngài; Ngài là một với Cha Ngài; chỉ có một ý muốn duy nhất của Thiên Chúa, chỉ có một kế hoạch duy nhất
của Thiên Chúa. Nỗi xao xuyến cùng cực của Đức Ki tô nhắm đến phương thế mà ý muốn duy nhất này phải
được thực hiện. Cơn hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni không phải không nhắc nhớ cơn thử thách trong hoang
địa ở đó cuộc tranh luận nội tâm nhắm đến cách thế Đức Giê-su sẽ thực hiện sứ mạng của mình. Ba lần Chúa
Giêsu trở lại bên các môn đệ của Ngài. Sự kiện vị Thiên Chúa làm người tìm sự nương tựa vào những anh em
nhân loại của mình trong nỗi buồn phiền vô tận thật cảm động biết bao. Ngoài ra, Chúa Giê-su không muốn để
mặc các môn đệ Ngài, vì họ cũng sắp trải qua sự thử thách và niềm tin của họ sẽ bị lung lay.
Việc phục sinh Ladarô xảy ra vào cuối sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Phép lạ này, dấu chỉ sau cùng mà Người
ban cho dân Do thái trong cuộc tranh tụng giữa ánh sáng và tối tăm, cũng là dấu chỉ quan trọng nhất, vì đây không
còn là việc chữa lành hay hóa bánh ra nhiều, mà là phục sinh kẻ chết, quyền năng mà chỉ mình Thiên Chúa có
được. Đúng như Phaolô sau này sẽ nói với tín hữu thành Côrintô: “Kẻ thù cuối cùng bị đánh bại, chính là sự chết”.
Việc phục sinh Ladarô mở màn cho diễn từ giã biệt và cuộc Tử nạn, vì, theo thánh Gioan, chính việc này thúc đẩy
Hội đồng Công tọa dứt khoát quyết định lên án tử hình Chúa Giêsu. Người Do thái đã “thích tối tăm hơn ánh sáng
vì công việc của họ xấu xa” (Ga 3, 19). Vị trí trung tâm của phép lạ trong Tin Mừng thứ tư đã khiến nó trở thành
chìa khóa để hiểu thần học của thánh Gioan. Bởi đấy chúng ta sẽ nghiên cứu nó trong viễn ảnh này.
Nhờ Bí tích Thanh tẩy, chúng ta trở nên con cái sự sáng. Chúng ta mang trong mình ánh sáng của Chúa Giêsu. Ơn
gọi và bổn phận của người tín hữu là nên giống Chúa Giê-su, và làm lan toả ánh sáng của Người trong cuộc sống
thường ngày. Cuộc sống trần gian là sự giành giật không ngừng giữa bóng đêm và ánh sáng. Có những lúc bóng
đêm lại được tô vẽ bằng những ngôn từ mỹ miều choáng ngợp dễ làm cho người ta bị lừa. Vì thế, Thánh Phao-lô
khuyên chúng ta: “Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt
lành, là công chính và chân thật” (Bài đọc II).
Sách Sáng Thế mô tả, Nước đã có trong công trình sáng tạo thế giới và vũ trụ muôn loài. Chúa đã tạo ra nước để
làm cho ruộng đất phì nhiêu. Nước tưới vườn Êđen địa đàng trần gian. Nước làm cho vạn vật sinh sôi nảy nở, cho
thân xác con người được mát mẻ sạch sẽ. Chúa còn tạo ra nước như dụng cụ của lòng từ bi Chúa: Chúa đã làm
cho Nước Biển Ðỏ và Nước sống Giorđan dựng lên thành tường để Dân Chúa thoát ách nô lệ và đi vào Đất Hứa.
Và lời Chúa hôm nay minh chứng nhờ nước Chúa đã làm dịu cơn khát của Dân Chúa trong sa mạc; các tiên tri đã
dùng hình ảnh nước mà loan báo giao ước mới Chúa sẽ thiết lập với loài người; sau hết nhờ nước mà Đức Kitô đã
thánh hóa trong sông Gioađan. Chúa đã đổi mới bản tính hư hỏng của ta con trong giếng nước tái sinh ....... Đức
Kitô, Đấng ngồi nghỉ trên miệng giếng chính là Nguồn Nước, từ cạnh sườn bên phải Người, tuôn trào dòng nước
xót thương. Một phụ nữ có sáu đời chồng đã được tẩy sạch bằng dòng Nước Hằng Sống ấy. Bà lấy nước từ
dòng Nước Giêsu! Tìm được Nước, bà ra đi với sự tiết hạnh. Ngay lập tức bà xưng thú các lỗi mà Chúa Giêsu ám
chỉ, bà nhận ra Đức Kitô và loan báo Đấng Cứu Thế. Bà để vò nước xuống, mang ơn sủng vào thành; vai nhẹ bớt,
bà trở về tràn đầy sự thánh thiện ....... Đúng là ai đến trong tội lỗi sẽ trở về với sứ mạng tiên tri ....... Chúa Giêsu
đã khởi đi từ nước thế gian tới nước hằng sống. Nước này là ân huệ Chúa ban nơi Đức Giêsu và là giáo huấn của
Người. Giáo huấn đem lại cho chúng ta niềm vui siêu nhiên và sự bình an trong tâm hồn. Nhờ nước hằng sống,
chúng ta không còn đi tìm kiếm một thần linh nào khác. Chúng ta được gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng họ tôn thờ,
không phải ở đây hay ở kia, nhưng trong tinh thần và chân lý. Thánh Phaolô đã khẳng định: “Nhờ Đức Kitô Chúa
chúng ta, con người trở nên công chính và được bình an với Thiên Chúa” (Bài đọc II).
Ngày hôm nay, Chúa Giêsu đang “biến hình” giữa chúng ta. Quả vậy, chúng ta đâu có nhìn thấy
Người bằng con mắt thể lý. Chúa hiện diện qua Lời Chúa, qua cộng đoàn cầu nguyện, qua
người nghèo khổ và nhất là trong Bí tích Thánh Thể. Chúa đang biến hình trong đời sống của
chúng ta. Mùa Chay là thời điểm giúp chúng ta nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, để chúng
ta gặp gỡ Người. Thánh Phaolô nhắc chúng ta hãy nhận ra Đức Giêsu là Con yêu dấu của
Chúa Cha. Người là Đấng tiêu diệt thần chết và đang hiện diện giữa chúng ta (Bài đọc II).
Sống trong cuộc đời, dù ở bậc sống nào đi nữa, chúng ta không thể thoát khỏi thử thách cám dỗ. Các vị thánh là
những người đã can đảm đối diện và chiến thắng cám dỗ. Nếu đọc tiểu sử của các vị thánh như Thánh Antôn ẩn
tu, Thánh Phanxicô Assidi, Thánh Catharina de Siena, Thánh Têrêsa Avila... chúng ta sẽ thấy các ngài là những
người đã trải qua những cơn cám dỗ khốc liệt. Như vậy, ta có thể định nghĩa: các thánh là những người đã chiến
thắng cám dỗ để trung thành với Chúa cho đến cùng. Lời Chúa từ sách Sáng thế cho ta thấy cám dỗ là vấn đề
“xưa như trái đất”. Cám dỗ đã hiện hữu ở đầu lịch sử, khi con người còn trong trắng và thân tình với Chúa.
Sống trên đời, lý tưởng và mẫu mực mà chúng ta chọn lựa không phải là một vĩ nhân nơi trần thế. Lý
tưởng sống của người tín hữu là chính Chúa Giêsu, Đấng đã tuyên bố: Ta là Đường, là Sự thật và là Sự
sống. Nhờ việc chuyên chăm thực hiện giáo huấn của Đức Giêsu, chúng ta có thể sống theo sự thật và
nên hoàn hảo trong cuộc đời trần thế, là bảo đảm hạnh phúc Nước Trời. Tự bản chất, con người dễ dàng
dối trá với người khác và dối trá với cả chính mình. Vì dối trá, người ta sẵn sàng xúc phạm đến tha nhân,
thậm chí xúc phạm cả Thiên Chúa. Đức Giêsu dạy chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Hễ ‘có’ thì phải nói
‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ”.
Sống trên đời, mỗi người chúng ta giống như một ngôi sao trên bầu trời. Triệu triệu ngôi sao trong dải ngân hà,
không có hai ngôi sao giống nhau hoàn toàn. Những ngôi sao khác nhau về kích cỡ, về cường độ ánh sáng và về
tốc độ vận chuyển. Thiên Chúa là Đấng “ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147,4). Thiên
Chúa cũng biết mỗi người chúng ta, và Ngài khắc tên chúng ta trong bàn tay của Ngài. “Ta đã gọi con bằng chính
tên con. Con là của riêng Ta” (Is 43,1).
Bài Tin Mừng Chúa nhật thứ bốn thường niên thường được gọi là “Tám mối phúc thật”. Đây là phần mở đầu của
“Bài giảng trên núi”, theo Tin Mừng thánh Matthêu. Có thể nói, bài giảng này tóm lược những nét chính trong toàn
bộ giáo huấn của Chúa Giêsu. Bài giảng này cũng phác hoạ chân dung của Chúa, như mẫu mực để mọi tín hữu noi
theo, nhờ đó mà đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Đức Giêsu không chỉ giảng dạy bằng những công thức hoặc lý thu-
yết, nhưng bằng chính cuộc đời của Người. Tám mối phúc cũng là tám nét diễn tả cuộc đời và sứ mạng của Chúa:
Chúa trở nên khó nghèo cho chúng ta được giàu sang; Chúa hiền lành và khiêm nhường trong lòng; Chúa rơi lệ
trước nỗi thống khổ của nhân gian; Chúa khao khát sự công chính cho loài người; Chúa là Đấng diễn tả lòng
thương xót của Chúa Cha; Chúa là Đấng có trái tim trong sạch; Chúa đến để thiết lập vương quốc hoà bình; Chúa
bị bách hại và chấp nhận khổ hình thập giá để làm chứng cho Chân lý. Những mối phúc này cũng phác hoạ chân
dung của người môn đệ đích thực. Không ai có thể mang danh Đức Kitô (Kitô hữu), mà lại khước từ những đề nghị
của Người. Chấp nhận làm môn đệ Đức Giêsu, đôi khi bị coi là điên dại dưới cái nhìn của người trần thế. Thánh
Phaolô đã quảng diễn cho chúng ta thấy, sự “điên dại” của Thiên Chúa, đúng hơn là sự điên dại theo cái nhìn của
loài người, lại khôn ngoan gấp trăm lần sự khôn ngoan theo lẽ thế gian. Quả vậy, thập giá đối với người Do Thái là
sự hèn hạ, đáng khinh bỉ, nhưng đối với các Kitô hữu thì đó lại là trường dạy sự khôn ngoan và là niềm tự hào.
Chính Chúa Kitô là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Ai trung tín theo Người thì sẽ trở nên những người khôn
ngoan. Bởi lẽ trong Người mà chúng ta được vinh quang. Người là niềm tự hào của chúng ta.
Tại sao phải sám hối? ....... Khi nói đến sám hối là nói đến sự trở về. Trở về tức là từ bỏ con đường, lối
sống, cung cách, quan niệm cũ để đón nhận một cái gì đó mới và hợp hơn. Thật vậy, có những người đi sai
một con đường, cần phải trở về và khởi đầu lại thì mới có thể tới đích.