Nhờ Bí tích Thanh tẩy, chúng ta trở nên con cái sự sáng. Chúng ta mang trong mình ánh sáng của Chúa Giêsu. Ơn
gọi và bổn phận của người tín hữu là nên giống Chúa Giê-su, và làm lan toả ánh sáng của Người trong cuộc sống
thường ngày. Cuộc sống trần gian là sự giành giật không ngừng giữa bóng đêm và ánh sáng. Có những lúc bóng
đêm lại được tô vẽ bằng những ngôn từ mỹ miều choáng ngợp dễ làm cho người ta bị lừa. Vì thế, Thánh Phao-lô
khuyên chúng ta: “Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt
lành, là công chính và chân thật” (Bài đọc II).
Sách Sáng Thế mô tả, Nước đã có trong công trình sáng tạo thế giới và vũ trụ muôn loài. Chúa đã tạo ra nước để
làm cho ruộng đất phì nhiêu. Nước tưới vườn Êđen địa đàng trần gian. Nước làm cho vạn vật sinh sôi nảy nở, cho
thân xác con người được mát mẻ sạch sẽ. Chúa còn tạo ra nước như dụng cụ của lòng từ bi Chúa: Chúa đã làm
cho Nước Biển Ðỏ và Nước sống Giorđan dựng lên thành tường để Dân Chúa thoát ách nô lệ và đi vào Đất Hứa.
Và lời Chúa hôm nay minh chứng nhờ nước Chúa đã làm dịu cơn khát của Dân Chúa trong sa mạc; các tiên tri đã
dùng hình ảnh nước mà loan báo giao ước mới Chúa sẽ thiết lập với loài người; sau hết nhờ nước mà Đức Kitô đã
thánh hóa trong sông Gioađan. Chúa đã đổi mới bản tính hư hỏng của ta con trong giếng nước tái sinh ....... Đức
Kitô, Đấng ngồi nghỉ trên miệng giếng chính là Nguồn Nước, từ cạnh sườn bên phải Người, tuôn trào dòng nước
xót thương. Một phụ nữ có sáu đời chồng đã được tẩy sạch bằng dòng Nước Hằng Sống ấy. Bà lấy nước từ
dòng Nước Giêsu! Tìm được Nước, bà ra đi với sự tiết hạnh. Ngay lập tức bà xưng thú các lỗi mà Chúa Giêsu ám
chỉ, bà nhận ra Đức Kitô và loan báo Đấng Cứu Thế. Bà để vò nước xuống, mang ơn sủng vào thành; vai nhẹ bớt,
bà trở về tràn đầy sự thánh thiện ....... Đúng là ai đến trong tội lỗi sẽ trở về với sứ mạng tiên tri ....... Chúa Giêsu
đã khởi đi từ nước thế gian tới nước hằng sống. Nước này là ân huệ Chúa ban nơi Đức Giêsu và là giáo huấn của
Người. Giáo huấn đem lại cho chúng ta niềm vui siêu nhiên và sự bình an trong tâm hồn. Nhờ nước hằng sống,
chúng ta không còn đi tìm kiếm một thần linh nào khác. Chúng ta được gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng họ tôn thờ,
không phải ở đây hay ở kia, nhưng trong tinh thần và chân lý. Thánh Phaolô đã khẳng định: “Nhờ Đức Kitô Chúa
chúng ta, con người trở nên công chính và được bình an với Thiên Chúa” (Bài đọc II).
Ngày hôm nay, Chúa Giêsu đang “biến hình” giữa chúng ta. Quả vậy, chúng ta đâu có nhìn thấy
Người bằng con mắt thể lý. Chúa hiện diện qua Lời Chúa, qua cộng đoàn cầu nguyện, qua
người nghèo khổ và nhất là trong Bí tích Thánh Thể. Chúa đang biến hình trong đời sống của
chúng ta. Mùa Chay là thời điểm giúp chúng ta nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, để chúng
ta gặp gỡ Người. Thánh Phaolô nhắc chúng ta hãy nhận ra Đức Giêsu là Con yêu dấu của
Chúa Cha. Người là Đấng tiêu diệt thần chết và đang hiện diện giữa chúng ta (Bài đọc II).
Sống trong cuộc đời, dù ở bậc sống nào đi nữa, chúng ta không thể thoát khỏi thử thách cám dỗ. Các vị thánh là
những người đã can đảm đối diện và chiến thắng cám dỗ. Nếu đọc tiểu sử của các vị thánh như Thánh Antôn ẩn
tu, Thánh Phanxicô Assidi, Thánh Catharina de Siena, Thánh Têrêsa Avila... chúng ta sẽ thấy các ngài là những
người đã trải qua những cơn cám dỗ khốc liệt. Như vậy, ta có thể định nghĩa: các thánh là những người đã chiến
thắng cám dỗ để trung thành với Chúa cho đến cùng. Lời Chúa từ sách Sáng thế cho ta thấy cám dỗ là vấn đề
“xưa như trái đất”. Cám dỗ đã hiện hữu ở đầu lịch sử, khi con người còn trong trắng và thân tình với Chúa.
Sống trên đời, lý tưởng và mẫu mực mà chúng ta chọn lựa không phải là một vĩ nhân nơi trần thế. Lý
tưởng sống của người tín hữu là chính Chúa Giêsu, Đấng đã tuyên bố: Ta là Đường, là Sự thật và là Sự
sống. Nhờ việc chuyên chăm thực hiện giáo huấn của Đức Giêsu, chúng ta có thể sống theo sự thật và
nên hoàn hảo trong cuộc đời trần thế, là bảo đảm hạnh phúc Nước Trời. Tự bản chất, con người dễ dàng
dối trá với người khác và dối trá với cả chính mình. Vì dối trá, người ta sẵn sàng xúc phạm đến tha nhân,
thậm chí xúc phạm cả Thiên Chúa. Đức Giêsu dạy chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Hễ ‘có’ thì phải nói
‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ”.
Sống trên đời, mỗi người chúng ta giống như một ngôi sao trên bầu trời. Triệu triệu ngôi sao trong dải ngân hà,
không có hai ngôi sao giống nhau hoàn toàn. Những ngôi sao khác nhau về kích cỡ, về cường độ ánh sáng và về
tốc độ vận chuyển. Thiên Chúa là Đấng “ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147,4). Thiên
Chúa cũng biết mỗi người chúng ta, và Ngài khắc tên chúng ta trong bàn tay của Ngài. “Ta đã gọi con bằng chính
tên con. Con là của riêng Ta” (Is 43,1).
Bài Tin Mừng Chúa nhật thứ bốn thường niên thường được gọi là “Tám mối phúc thật”. Đây là phần mở đầu của
“Bài giảng trên núi”, theo Tin Mừng thánh Matthêu. Có thể nói, bài giảng này tóm lược những nét chính trong toàn
bộ giáo huấn của Chúa Giêsu. Bài giảng này cũng phác hoạ chân dung của Chúa, như mẫu mực để mọi tín hữu noi
theo, nhờ đó mà đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Đức Giêsu không chỉ giảng dạy bằng những công thức hoặc lý thu-
yết, nhưng bằng chính cuộc đời của Người. Tám mối phúc cũng là tám nét diễn tả cuộc đời và sứ mạng của Chúa:
Chúa trở nên khó nghèo cho chúng ta được giàu sang; Chúa hiền lành và khiêm nhường trong lòng; Chúa rơi lệ
trước nỗi thống khổ của nhân gian; Chúa khao khát sự công chính cho loài người; Chúa là Đấng diễn tả lòng
thương xót của Chúa Cha; Chúa là Đấng có trái tim trong sạch; Chúa đến để thiết lập vương quốc hoà bình; Chúa
bị bách hại và chấp nhận khổ hình thập giá để làm chứng cho Chân lý. Những mối phúc này cũng phác hoạ chân
dung của người môn đệ đích thực. Không ai có thể mang danh Đức Kitô (Kitô hữu), mà lại khước từ những đề nghị
của Người. Chấp nhận làm môn đệ Đức Giêsu, đôi khi bị coi là điên dại dưới cái nhìn của người trần thế. Thánh
Phaolô đã quảng diễn cho chúng ta thấy, sự “điên dại” của Thiên Chúa, đúng hơn là sự điên dại theo cái nhìn của
loài người, lại khôn ngoan gấp trăm lần sự khôn ngoan theo lẽ thế gian. Quả vậy, thập giá đối với người Do Thái là
sự hèn hạ, đáng khinh bỉ, nhưng đối với các Kitô hữu thì đó lại là trường dạy sự khôn ngoan và là niềm tự hào.
Chính Chúa Kitô là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Ai trung tín theo Người thì sẽ trở nên những người khôn
ngoan. Bởi lẽ trong Người mà chúng ta được vinh quang. Người là niềm tự hào của chúng ta.
Tại sao phải sám hối? ....... Khi nói đến sám hối là nói đến sự trở về. Trở về tức là từ bỏ con đường, lối
sống, cung cách, quan niệm cũ để đón nhận một cái gì đó mới và hợp hơn. Thật vậy, có những người đi sai
một con đường, cần phải trở về và khởi đầu lại thì mới có thể tới đích.
Chúa Giêsu là Chúa của muôn người. Thánh Phaolô đã khẳng định điều này trong thư gửi giáo dân Corintô.
Những ai tin vào Người sẽ được hiến thánh nhờ bí tích Thanh Tẩy. Đây là huyền nhiệm của tình thương, do quyền
năng của Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người và muốn cho mọi người được cứu rỗi. Như thế, người tín hữu
được vinh dự lớn lao nhờ tin vào Chúa Giêsu. Được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu trong bí tích
Thanh Tẩy, người tín hữu cũng trở nên những “người được Chúa Cha tuyển chọn”. Ơn gọi và bổn phận của
người tín hữu là giới thiệu Chúa Giêsu với mọi người, đồng thời làm phản ánh hình ảnh của Người qua chính cuộc
đời thánh thiện công chính của mình, để rồi trong lời nói, tư tưởng cũng như việc làm, đều làm cho hình ảnh của
Đức Giêsu hiển hiện. Đó cũng là sứ mạng làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hôm nay. Chúa Giêsu là Đấng
được Thiên Chúa tuyển chọn. Đây là lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả. Đây cũng là lời chứng của ngôn sứ Isaia.
Khái niệm “Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn” cũng giống như “Đấng được Thiên Chúa sai đi”, hay “Đấng Thiên
sai”. Trong Tin Mừng, nhiều lần Đức Giêsu khẳng định Người được Chúa Cha sai đến trần gian. Việc tuyển này
được chính Chúa Cha xác nhận, khi Đức Giêsu được ông Gioan thanh tẩy trong dòng sông Giordan. Việc Chúa
Cha sai Con của Ngài đến trần gian là bằng chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, như lời Chúa Giêsu
nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi
phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Như thế, sứ mạng của Chúa Giêsu là đến trần gian để quảng diễn tình
yêu của Chúa Cha, đồng thời mời gọi mọi người nhận ra tình yêu ấy để sống tốt, đền đáp tình yêu thương của
Chúa Cha.
Tại sao Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng vô tội, lại lãnh nhận phép Rửa của ông Gioan? Chúng ta thường đặt ra
câu hỏi ấy. Việc Chúa lãnh nhận phép Rửa không phải vì Chúa mang tội, nhưng thể hiện sự khiêm tốn hạ mình,
như Thánh Phaolô viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang
hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống
như người trần thế” (Pl 2,6-7). Đức Giêsu hoà mình vào dòng người đang bị lên án gay gắt là những tội nhân và
cúi mình xin được nhận lãnh phép rửa. Chính ông Gioan cũng ngạc nhiên và do dự khi thấy Người đến với ông.
Trước sự chần chừ của ông Gioan, Chúa Giêsu nói: “Chúng ta làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15).
Khi bước xuống dòng sông Giordan, Chúa Giêsu muốn chứng minh: Người muốn liên đới với con người tội lỗi.
Sau này, Chúa khẳng định: “Tôi không đến vì người mạnh khoẻ, nhưng vì những người đau yếu”. Qua việc lãnh
nhận phép rửa, Chúa cũng cho thấy ước vọng của Người là cứu chữa hết mọi người, kể cả những tội nhân, và
khẳng định với họ: mọi người đều có quyền hy vọng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Ngài là Cha yêu
thương.
Anh chị em thân mến, Lễ Hiển Linh cử hành biến cố ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Chúa. Họ là ba người ngoài Do Thái,
được coi là dân ngoại nhưng đã tìm hiểu và tin nhận Chúa Giê-su là Chúa của mình. Vì thế ngày lễ này được coi là
ngày lễ của niềm tin. Chiêm ngắm cuộc hành trình đức tin của ba nhà đạo sĩ, chúng ta có dịp để hâm nóng lại niềm tin
của mình. Tất cả chúng ta đây là các đạo sĩ của thời nay, có nhiệm vụ làm cho cả thế giới nhận biết Chúa Giê-su là
Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Nhiệm vụ đặc biệt của chúng ta là làm cho mọi người sẵn sàng mở rộng tâm hồn đón tiếp
Lời Chúa, để có thể nhận ra Chúa Giê-su trên khắp nẻo đường đời. Người cần chúng ta cộng tác để nối dài công trình
cứu thế của Người. .... Lễ Hiển Linh là mầu nhiệm ánh sáng. Lời nguyện nhập Lễ Ban Đêm, Giáo Hội tuyên xưng
Chúa “là nguồn ánh sáng thật đến soi chiếu trần gian làm cho đêm cực thánh này bừng lên rực rỡ”, và lời nguyện Lễ
Rạng Đông Giáo Hội chỉ rõ Hài Nhi Giê-su là “ánh sáng mới của Ngôi Lời nhập thể” và cầu xin Thiên Chúa toàn năng
“làm cho ánh sáng ấy rực lên trong mọi sinh hoạt của chúng con”. Ánh sáng ấy được biểu lộ trong ngày lễ Hiển Linh,
ngày Chúa tỏ mình ra cách rõ nhất mà hôm nay chúng ta mừng kính. Lời ngôn sứ I-sai-a thôi thúc chúng ta: “Hãy đứng
lên, hãy tỏa sáng ra, hỡi Giê-ru-sa-lem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình
ngươi. Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì
vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về
ánh bình minh của ngươi.” (Is 66,1-3). Ðây là một lời mời hướng tới Giáo Hội Chúa Ki-tô và hướng tới từng người Ki-tô
hữu, mời gọi chúng ta ý thức hơn về sứ mệnh và trách nhiệm truyền giáo của mình đối với thế giới trong việc làm
chứng và chiếu sáng Tin Mừng khắp thế gian.
Ngôi Lời của Thiên Chúa đã đến làm người trong một gia đình. Vì thế, hằng năm, vào Chúa Nhật
sau lễ Giáng Sinh, Hội Thánh mừng kính Lễ Thánh Gia Thất của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh
Giuse. Thánh Gia trở thành một mẫu gương nổi bật cho các gia đình Kitô hữu noi theo. Các bài đọc
hôm nay cho thấy vai trò và bổn phận mà mỗi thành viên trong gia đình phải có để kiến tạo một gia
đình hạnh phúc; đồng thời cho thấy những phúc lành mà Thiên Chúa hứa ban cho một gia đình
sống theo thánh ý Thiên Chúa. “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ
cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được
trường thọ...” Tư tưởng này rất phù hợp với đạo hiếu “uống nước nhớ nguồn, làm con phải hiếu”
của người Việt Nam. Là cha mẹ, chúng ta có ý thức được rằng đời sống và các hành vi của bản
thân là bài học chính cho con cái hay không? Là con cái, chúng ta có ý thức được phận làm con
của mình, cụ thể là sống hiếu thảo thì sẽ đẹp lòng Chúa, làm vui lòng cha mẹ, tích đức cho bản
thân; và đến lượt, sẽ có một gia đình hạnh phúc trong tương lai, sẽ được con cái kính trọng như
mình đã kính trọng với cha mẹ của mình hay không?
Lễ Giáng Sinh đã đến gần, Phụng vụ mời gọi chúng ta chuẩn bị tâm hồn, để khi chiêm ngưỡng
hang đá máng cỏ, chúng ta nhận ra những nhân vật hiện diện: Đức Trinh nữ Maria, Thánh
Giuse và nhất là Chúa Hài Đồng. Sự kiện Sứ thần truyền tin cho Đức Maria trong Tin Mừng
Thánh Luca được chú ý nhiều hơn là cuộc truyền tin cho Thánh Giuse, được Thánh Matthêu ghi
lại. Trong cuộc truyền tin này, tuy ngắn gọn, tác giả Matthêu cũng giới thiệu về tình trạng của
thôn nữ Maria: “trước khi hai ông bà chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh
Thần”. Tình trạng này cũng được chính Sứ thần giải thích với Giuse, với lời khuyên hãy đón
nhận người bạn đời. Sứ thần cũng hướng dẫn việc đặt tên cho Con Trẻ sắp sinh và nói về sứ
mạng tương lai của Con Trẻ, là Đấng Cứu độ. Giữa bối cảnh đầy lo âu và bất an bất ổn của
cuộc sống hôm nay, Lời Chúa nói với chúng ta như đã nói với Thánh Giuse: Đừng sợ!
Một ý tưởng nổi bật dễ nhận thấy khi nghe các Bài đọc Lời Chúa trong Phụng vụ Chúa nhật thứ ba Mùa Vọng, đó là niềm
vui. Cùng với ngôn sứ Isaia, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy vui lên. Đây là niềm vui của ngày chiến thắng, niềm vui của
người nông dân trong ngày gặt lúa, niềm vui của người được trở về quê cha đất tổ sau bao năm xa cách, niềm vui của cô
dâu chú rể và khách dự tiệc cưới. Quan trọng hơn cả, đó là niềm vui vì có Chúa hiện diện giữa dân Người.
Mỗi năm, khi Mùa Vọng về, Phụng vụ lại hướng chúng ta về thời Thiên sai. Đó sẽ là thời an bình. Trật tự hài hoà Thiên – Địa
– Nhân, là trật từ vốn đã có từ thời sáng tạo, sẽ được tái lập. Ngôn sứ Isaia đã say sưa chiêm ngưỡng một xã hội thanh
bình: “Sói ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt
chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái. Sư tử cũng ăn rơm như bò”. Qua ngòi bút của vị ngôn sứ, những loài động vật thường
ngày vẫn “không đội trời chung” lại trở nên thân thiện và chung sống hài hoà. Ai trong chúng ta cũng đều nhận ra, vị ngôn sứ
dùng hình ảnh thế giới động vật để diễn tả thế giới loài người. Khi Đấng Thiên sai đến, con người sẽ không còn thù ghét và
chống lại nhau. Tất cả trở nên thân thiện. Sẽ không còn bạo lực và chém giết. Mọi người sống với nhau trong tình huynh đệ.
Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu với một
danh xưng rất đặc biệt: Vua vũ trụ. Người là Vua công chính và là Đấng cứu độ. Trong Cựu ước, có ba
chức vụ được chính Thiên Chúa chọn và xức dầu, đó là vua, ngôn sứ và tư tế. Vì được Thiên Chúa
chọn, nên ba vị này hành động nhân danh Thiên Chúa. Họ cũng là người chuyển tải sứ điệp và lệnh
truyền của Chúa cho Dân riêng.
As we come near the end of ordinary time in our
liturgical calendar and about to enter the season of
Advent, our readings this weekend give us a
glimpse about what to expect when the end of days
comes and remind us the ways on how we prepare
best to meet the Lord. However, whenever we talk
about the end times, we could hardly hide our
mixed feelings. Some would want to hear and to
know more about it, others would not want to talk
nor hear something related with it; still others would
not care.
Mọi sự trong thế gian đều có ngày cùng tận, và ngay cả chính thế gian cũng có ngày cùng tận của nó.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nói về ngày cùng tận của thế gian và những điềm báo trước
ngày ấy. Điềm Ngài nói tới trước hết là các ngôn sứ giả đội lốt chiên (x. Mt 7,15) mạo danh người của
Thiên Chúa (x. Lc 21,8) để lường gạt nhiều người (Mt 21,11), nhờ thế họ được thế gian trọng vọng và
ưu đãi (x. Lc 6,26). Điềm kế tiếp là chiến tranh giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, cùng với các thiên
tai (động đất, bão lụt, dịch tễ, đói kém...). Trong thời gian ấy, những người công chính hay các ngôn sứ
thật bị bắt bớ, ngược đãi, bách hại, cầm tù, hãm hại... Theo lời Đức Giêsu, thời này là một cơ hội tốt để
người Ki-tô hữu làm chứng cho Thiên Chúa, cụ thể là làm chứng cho công lý và tình yêu của Ngài.
Chính vì làm chứng như thế mà họ «bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp», kết án,
làm mặt lạ, «bị mọi người thù ghét», bỏ rơi, thậm chí bị giết. Nhưng không một sự gì xảy ra ngoài thánh
ý Thiên Chúa: «dù chỉ một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu!». Hãy tự hỏi ta có quan tâm
đến việc làm chứng cho Ngài, cho công lý và tình thương không? Cứ xem thời điềm thì biết được thời
đó sắp đến hay chưa. Người khôn ngoan thì luôn tỉnh thức vì biết rằng «ngày của Chúa sẽ đến như kẻ
trộm ban đêm» (1 Tx 5,2). Do đó, «hãy sống như giữa ban ngày» (Rm 13,13), «sống trong ánh sáng» (1
Ga 1,7), «không sống trong bóng tối kẻo ngày ấy như kẻ trộm đến bất chợt không hay biết» (1 Tx 5,4).
«Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước
mặt Con Người» (Lc 21,36). «Ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát»
Ngay từ đầu, Thánh Đường Latêranô được dâng kính Đấng Cứu Thế, với tước hiệu Vương Cung
Thánh đường Chúa Cứu Thế. Thế kỷ XII, nó cũng được dâng kính thánh Gioan Baotixita và thánh
Gioan tông đồ. Đại thánh đường Latêranô được xem là “Mẹ và là Đầu của mọi nhà thờ trên thế
giới”. Sở dĩ nhà thờ này có một chỗ đứng quan trọng trong Giáo Hội như thế là vì bốn lý do...