Đoạn Tin Mừng hôm nay mang đầy tính thời sự vì chúng ta đang sống trong một thế giới con người muốn gạt
bỏ Thiên Chúa ra ngoài, hoặc nhận tất cả về mình, không còn kể đến Thiên Chúa nữa. Câu kết của đoạn Tin
Mừng hôm nay đã trở thành lời bất hủ và ghi đậm dấu ấn trong lịch sử, trong tương quan phân chia, sở hữu
thường ngày. Đồng tiền mang hình ảnh của Caesar, nhưng linh hồn chúng ta là chính hình ảnh của Thiên Chúa
Ba Ngôi, thể theo Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin tỏa ánh tôn nhan Người trên chúng tôi”. Ánh tôn nhan Thiên
Chúa là ánh của ân sủng ghi dấu trên chúng ta hình ảnh Ngài, làm cho chúng ta giống Ngài, ánh tôn nhan Chúa
còn là ấn tích được ghi trong trí chúng ta, chúng ta nhận biết ai đó nhờ khuôn mặt của người ấy, thì Thiên Chúa
cũng nhận biết chúng ta nhờ tấm gương của lý trí. Nhưng lý trí này đã bị biến dạng do tội lỗi con người, vì tội
lỗi khiến con người chống lại Thiên Chúa. Ân sủng Đức Ki-tô sửa chữa lại lý trí chúng ta. Đó là lý do tại sao
thánh Tông đồ Phao-lô nói trong thư gửi tín hữu Ê-phê-sô rằng: ”Hãy đổi mới tinh thần”. Ánh sáng ở đây còn
là ân sủng, nhằm phục hồi hình ảnh Thiên Chúa ghi khắc trong chúng ta. Thiên Chúa Ba Ngôi đã khắc ghi vào
con người hình ảnh giống Ngài. Con người giống Chúa Cha ở điểm trí nhớ, giống Chúa Con ở trí hiểu, giống
Chúa Thánh Thần ở chỗ biết yêu mến... khi tạo dựng, con người được dựng lên ”giống hình ảnh Chúa”. Hình
ảnh trong sự nhận biết chân lý, tương tự trong nhân đức yêu thương. Ánh tôn nhan Thiên Chúa chính là ân sủng
công chính hóa chúng ta và một lần nữa cho thấy hình ảnh được tạo ra. Ánh sáng này là tất cả những điều tốt
đẹp nơi con người, được ghi dấu, như hình ảnh của nhà vua trên đồng tiền. Đó là lý do tại sao Chúa nói: “Cái
gì của Caesar thì hãy trả cho Caesar”. Điều này ý nói: phải trả cho Caesar hình ảnh của Caesar, trả cho Thiên
Chúa linh hồn anh em, đã được điểm tô và ghi dấu ánh sáng tôn nhan Thiên Chúa. Chúng ta không thể trao cho
Caesar linh hồn của chúng ta, nó luôn thuộc về Chúa.
Sáng 14/10/2026, cây thứ hai đã được trồng tại khu vực linh đài. Công trình đang tiến triển từng bước, nhờ sự cộng tác của quý anh chị em. Xin tiếp tục cầu nguyện cho công trình sớm hoàn thành.
Có một điều khiến người ta không khỏi thắc mắc và tìm lời giải đáp cho người được mời không mặc y phục lễ cưới, họ vào và bị đức vua ra lệnh: "Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng!" Họ đang ở ngã ba đường, đầy tớ đức vua tình cờ gặp họ, mời họ vào bất luận họ là ai, sao lại đòi họ phải có y phục lễ cưới? Áo cưới mà Tin Mừng nói tới ở đây là áo nào? Có phải các bí tích không? Hay là Phép Rửa tội? Vì không chịu phép Rửa tội, không ai có thể đạt tới Thiên Chúa được, nhưng có một số người lãnh nhận phép Rửa tội, không đến cùng Thiên Chúa … Có thể là bàn thờ hay điều người ta lãnh nhận từ bàn thờ không? "Vì kẻ ăn và uống, mà không phân biệt được Thân mình, tức là ăn và uống án phạt cho mình". Vậy thì là cái gì? Ăn chay ư? Những kẻ gian ác cũng làm thế. Đi nhà thờ ư? Những kẻ gian ác cũng đi nhà thờ như bao người khác … Vậy áo cưới này là áo nào? Ở đây, người vào dự tiệc cưới không thụ động, chấp nhận vào thì phải tìm cách thể hiện mình xứng đáng, và đó là áo cưới. Ơn cứu độ là phổ quát, đồng ý để được cứu độ là chấp nhận sống theo những đòi hỏi của Nước Trời, áo cưới vừa thể hiện sự đồng ý, vừa chứng tỏ trách nhiệm của chúng ta. Đời sống luân lý không phải là điều kiện duy nhất để được cứu độ, Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, Gia-kêu và nhiều người khác được mời, họ đã hoán cải để trở nên xứng đáng với Chúa hơn. Áo cưới là những điều tốt, người dự tiệc phải có. Người được mời đến dự tiệc cưới không đơn giản chỉ ăn, nhưng chia sẻ niềm vui với họ hàng hai bên, mừng hạnh phúc cho đôi bạn trẻ, nên phải có y phục xứng đáng. Áo cưới được hiểu là biểu tượng của sự hoán cải. Sách Khải Huyền nói đến sự thánh và việc lành là chiếc áo bao phủ chúng ta. Thánh Giê-rô-ni-mô thì nói: "Áo cưới, là những thánh chỉ của Chúa, và việc làm được thực hiện theo luật của Tin Mừng là chiếc áo cưới mới". Áo cưới chính là "Đức Ki-tô Vị Hôn Phu" thánh Phaolô khuyên: "anh em hãy mặc lấy Ðức Ki-tô".
Hình ảnh vườn nho diễn tả cuộc sống trần gian của chúng ta. Thiên Chúa đã đặt chúng ta trong “vườn-
cuộc-đời”. Ngài thường xuyên chăm sóc, tỉa cảnh để chúng ta đem lại những hoa thơm trái ngọt cho đời.
“Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại... Chúa chỉ mong con người sống công bình, mà chỉ thấy
toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than”. Kính thưa anh chị
em, chúng ta vừa bước vào tháng Mân Côi. Mỗi khi Đức Mẹ hiện ra tại một nơi nào, Mẹ thường gửi đến
cho nhân loại thông điệp sám hối và lời mời gọi đọc kinh Mân Côi. Đó cũng chính là thông điệp của Chúa
Giêsu, vì Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng lời mời gọi sám hối. Khi đọc kinh Mân
Côi là chúng ta cùng với Đức Trinh nữ Maria suy niệm cuộc đời và giáo huấn của Chúa Cứu thế. Vì vậy,
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi kinh Mân Côi là cuốn Tân Ước rút gọn. Vị Giáo Hoàng người Ba
Lan cũng quả quyết: Kinh Mân Côi là kinh cầu nguyện mà ngài ưa thích nhất. Vào thế kỷ 13, nhờ kinh
Mân Côi, mà Giáo Hội được cứu khỏi cơn khủng hoảng và những mâu thuẫn. Trong tháng này, chúng ta
hãy suy niệm kinh Mân Côi với tâm tình của Đức Mẹ, để qua Đức Mẹ, chúng ta đến với Chúa Giêsu. Hai
mươi mầu nhiệm Mân Côi giúp chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu, đồng thời học hỏi nơi Người sự
khiêm nhường, vâng lời và phó thác nơi Thánh ý Chúa Cha. Trong tất cả các mầu nhiệm ấy, Đức Trinh nữ
luôn hiện diện để lắng nghe, suy niệm và thực thi Lời Chúa. Cùng với Chúa Giêsu, Mẹ đã thông phần đau
khổ và đã đạt được ngành thiên tuế của phúc tử đạo. Ước chi mỗi chúng ta biết sống các mầu nhiệm Mân
Côi như Đức Mẹ, để cùng với Mẹ hưởng vinh quang Thiên quốc.
Trong Tin Mừng theo thánh Gio-an, Chúa Giê-su tuyên bố: “Thầy là cây nho thật và Cha Thầy là
người trồng nho... Thầy là cây nho, các con là cành”. Tin vào Chúa Giê-su, chúng ta phải gắn bó
với Người để được Người thông chuyển nhựa sống siêu nhiên. Thánh Phao-lô khuyên giáo dân
Phi-lip-phê trong Bài đọc II: “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền,
những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh
em hãy để ý thực hành”. Khi làm những điều ấy là chúng ta gắn bó với Chúa Giê-su như cành nho
với thân nho. Như thế chúng ta sẽ là những người trung thành với Đấng đã hết mình yêu thương
chúng ta. Trong Tin Mừng của ba Chúa nhật liên tiếp, Chúa Giê-su đều dùng hình ảnh của vườn
nho để giáo huấn chúng ta. Trồng nho là một nghề phổ biến tại Do Thái, thời xưa cũng như thời
nay. Vì thế, Chúa Giê-su dùng hình ảnh rất gần gũi này để ai cũng có thể hiểu lời Người dạy.
Vườn nho là hình ảnh cuộc đời. Vườn nho cũng là biểu tượng dân Israel, tức là dân riêng Thiên
Chúa đã chọn từ thời ông Abraham. Vườn nho cũng là hình ảnh của Giáo Hội, nơi mọi người đều
được mời gọi góp phần. Sống trong vườn nho cuộc đời, mỗi chúng ta được trao một sứ mạng phải
hoàn thành. Nhờ bí tích Thanh Tẩy, chúng ta được gia nhập vào đội thợ làm vườn nho của Chúa.
Dù ở mức độ nào, mỗi chúng ta đều phải trung thành với Thiên Chúa. Ngài chính là Chủ Vườn
Nho.
Để giúp chúng ta hiểu thực tại Nước Trời, Chúa Giê-su đảo ngược lý luận của chúng ta về công bằng xã
hội. Một sự công bằng xã hội chỉ dừng lại ở những tính toán khắt khe không thể dẫn con người tới hạnh
phúc và không thể xây dựng một xã hội huynh đệ, vì nó bỏ rơi những người không có khả năng làm việc
và coi họ như không xứng đáng được hưởng những nhu cầu cần thiết.
“Cuộc sống vô thường”, đó là điều người ta hay nói. Đây cũng là một triết lý nhân sinh. “Vô thường” là khái
niệm thường được dùng trong một số tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, có nghĩa không có gì tồn tại mãi mãi,
mọi thứ đều ở trong trạng thái thay đổi liên tục, kể cả sự chết cũng là một thay đổi. Lăng kính Ki-tô giáo cũng
nhìn nhận sự bất toàn mong manh của kiếp người, đồng thời tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Thường Hằng
Bất Biến, tức là Đấng không thay đổi, Đấng vĩnh cửu quyền năng, ngàn đời vẫn thế. Tác giả Thánh vịnh diễn
tả: “Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa
mình ở cũng không biết mình.” Đó cũng là diễn giải khái niệm “vô thường” theo một cách khác.
Đối với chúng ta hôm nay là người Kitô hữu, đâu là nhiệm vụ của người ngôn sứ? Chúng ta có thể
tìm thấy câu trả lời trong Tin Mừng. Thánh Mátthêu đã tổng hợp trong một đoạn văn ngắn giáo huấn
của Chúa ở ba lãnh vực: sửa lỗi anh em, bao dung tha thứ, và cầu nguyện cộng đoàn. Mặc dù phân
chia ba nội dung, nhưng đều có chung một ý tưởng, đó là sống với tha nhân, sống cho tha nhân và
cùng cầu nguyện với tha nhân. Đây chính là nhiệm vụ của người ngôn sứ: nhắc nhở người khác trong
tình bác ái khi họ làm điều sai lỗi, với sự khiêm nhường và với trái tim chân thành. Cộng đoàn xã hội
cũng như cộng đoàn Đức tin luôn bao gồm những người tốt và những người chưa tốt. Chẳng ai có thể
tự nhận mình là đã hoàn hảo. Mỗi chúng ta còn mang nhiều khiếm khuyết, mặc dù có thể hoàn hảo ở
một khía cạnh nào đó. Chính vì vậy mà mỗi khi cử hành Thánh lễ, điều đầu tiên là chúng ta phải
khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm của mình và thân thưa với Chúa: Xin Chúa thương xót chúng
con! Việc sửa lỗi anh em là một nghĩa cử của đức bác ái, nên phải được thực hiện trong tình yêu
thương như Chúa đã dạy. Người tín hữu vừa có bổn phận sửa lỗi người khác, vừa phải khiêm tốn
lắng nghe những lời góp ý để hoàn thiện bản thân. Tình yêu đối với tha nhân còn là điều kiện để chúng
ta được Thiên Chúa nhận lời chúng ta cầu xin. “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu
xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho”. Lời cầu nguyện chung giữa hai
hoặc nhiều người là lời cầu nguyện đặt nền tảng trên tình yêu thương. Đó là lời cầu nguyện đẹp lòng
Chúa, đến nỗi Chúa Giêsu nhấn mạnh “Xin bất cứ điều gì” cũng được Chúa Cha nhận lời.
Chúa Giêsu đã vác thập giá lên đồi Canvê và chịu đóng đinh trên cây thập giá đó. Con đường thập giá Chúa đã đi
qua là con đường của sự nhẫn nhục, hy sinh vì tình yêu nhân loại. Con Thiên Chúa không dùng một phương tiện
khác nhẹ nhàng hơn để cứu độ con người, mà lại dùng thập giá với những nhục hình đau khổ, và như thế, những
ai muốn đi theo và làm môn đệ của Chúa Giêsu cũng phải đi trên con đường ấy, nhờ đó mà bản thân họ được tinh
luyện, đồng thời họ góp phần nâng đỡ anh chị em. Chúa có thập giá của Chúa và mỗi người chúng ta có thập giá
của mình. Con người không chào đời bằng nụ cười, nhưng bằng tiếng khóc, và rồi suốt cuộc đời họ là những trăn
trở triền miên, những lo toan cuộc sống. Họ luôn phải đối diện với bao khó khăn trong đời. Hành trình của người
môn đệ là hành trình thập giá: “Ai muốn theo Thày, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Chúa nhấn
mạnh đến “thập giá mình”, có nghĩa là gánh nặng và trách nhiệm cá nhân của mỗi chúng ta, là điều không ai tránh
khỏi trong kiếp người ....... Thập giá là “định mệnh” chung cho những ai muốn dấn thân phục vụ cho vinh quang
của Chúa và hạnh phúc của tha nhân. Ngôn sứ Giêrêmia vì trung thành truyền đạt giáo huấn của Chúa mà bị
những người đương thời ghen ghét và hành hạ vu khống. Ông đã trở nên trò cười cho thiên hạ. Có những lúc ông
chán nản định bỏ công việc Chúa trao, nhưng mỗi khi ông định từ bỏ sứ vụ, thì ông lại thấy đau khổ vô cùng.
Nhiệm vụ ngôn sứ như một duyên nợ với ông, rất khó khăn nhưng không dễ chối từ. Gặp nhiều đau khổ và chống
đối, ông vẫn say mê Chúa. Dầu có những lúc chán nản, ông vẫn trung thành với Ngài. Ngôn sứ Giêrêmia là hình
ảnh Đức Giêsu chịu đau khổ ....... và cũng là hình ảnh của chúng ta, khi chúng ta chịu vác lấy thập giá của mình.
Hôm nay, sau lời tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô, Chúa đã đặt Phêrô làm đá tảng của Giáo hội. Chúa không
bảo Phêrô trở thành một cục đá vô hồn mà là một viên đá sống động, một chỗ dựa cho các tông đồ và cho toàn
thể giáo hội. Phêrô phải là một tảng đá có một đức tin vững chắc đến nỗi không có gì lay chuyển nổi mới có thể
bảo vệ và gìn giữ Giáo hội. Chúa cũng biết con người Phêrô còn đầy bất toàn, yếu đuối, nhưng Chúa cũng nhận
thấy Phêrô có một tấm lòng nhiệt thành theo Chúa. Ông mến Chúa. Ông luôn mong muốn hoàn thiện đời mình. Ông
đã từng vấp ngã, nhưng ông mau làm lại cuộc đời. Chúa chọn ông không vì tài năng đức độ, nhưng vì lòng chân
thành của ông. Chúa dùng ông, một con người đã từng vấp ngã để có thể nâng đỡ đức tin còn yếu kém nơi anh
em. Chính Chúa đã từng nói với Phêrô: “Khi nào con trở về, con hãy củng cố đức tin anh em con”....... Hôm nay,
Chúa vẫn mời gọi chúng ta hãy trở nên những viên đá sống động để xây dựng Giáo hội. Tuy nhiên, mỗi người một
khả năng, mỗi người một hoàn cảnh, Chúa mời gọi chúng ta hãy biết tự xây dựng đời mình bằng những vật liệu
mà chúng ta đang có để trở thành những viên đá hữu ích cho tha nhân. Đặc biệt là cho gia đình chúng ta đang
sống. Có nhiều người nghĩ rằng: mình phải làm ông này bà nọ mới có thể cống hiến cho tha nhân. Đó là chuyện
của tương lai, nhưng ngay hôm nay, chúng ta hãy biết vận dụng những khả năng, hoàn cảnh Chúa ban để giúp
đời, để cứu đời, để xoa dịu nỗi đau cho những người chung quanh, để trở nên điểm tựa cho anh chị em chúng ta.
Xin Chúa giúp chúng ta biết uốn nắn đời mình trở thành những viên đá sống động và hữu ích cho gia đình và
những người chung quanh. Amen.
Cả ba bài đọc Lời Chúa hôm nay đều nhấn mạnh đến khái niệm “dân ngoại”, nhưng không phải để phân biệt và kỳ
thị. Trái lại, những khẳng định này nhằm giới thiệu Thiên Chúa là Thượng Đế của muôn dân. Ngôn sứ I-sai-a khẳng
định: nhà Chúa sẽ là nhà cầu nguyện cho muôn dân. Ai cũng có quyền được đến với Chúa. Ngài sẵn sàng đón
nhận mọi người và lắng nghe tâm sự của họ. Thánh Phao-lô lại diễn tả tình thương của Thiên Chúa thể hiện qua
việc Thiên Chúa đã sai thánh nhân đi rao giảng Tin Mừng cho các dân ngoại. Vì thế, vị tông đồ này tự nhận mình là
“Tông đồ của các dân ngoại”. Quả thật, nhờ thánh Phao-lô mà cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi không còn đóng khung
nơi người Do Thái, nhưng đến với các dân. Là một nhà truyền giáo không mệt mỏi, ngài đi đến các nơi xa xôi để rao
giảng Đức Giê-su và thiết lập cộng đoàn tín hữu. Thánh Mát-thêu kể với chúng ta: lúc đó Chúa Giê-su đang ở miền
đất của dân ngoại, tức là Tia và Xi-đon. Người phụ nữ gốc Canaan đến xin Chúa chữa cho con gái của bà đang bị
quỷ ám khổ sở. Mặc dù xem ra có vẻ như Chúa Giê-su khước từ thẳng thừng, người phụ nữ vẫn nài xin Chúa chữa
con mình. Tình mẫu tử của bà đã khiến bà chấp nhận mọi gian nan, kể cả khi Chúa Giê-su nói với bà: “Không được
lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Lời khước từ thật cay nghiệt, nhưng không làm bà nản lòng.
Cuối cùng, bà được nghe lời nói ngọt ngào của Chúa: “Lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào, sẽ được như
vậy”..... Giáo hội Ki-tô thực ra cũng phát xuất từ dân ngoại. Chúng ta đâu phải người Do Thái, nhưng nhờ bí tích
Thanh Tẩy, chúng ta được tháp nhập vào dân Israel mới, là con cháu Abraham do lòng tin chứ không phải do máu
huyết...... “Lạy Con Vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!” Đó là tiếng kêu than của cả nhân loại, đang tổn thương bầm
dập vì chiến tranh, bạo lực và thiên tai sự dữ. Đặc biệt, đó là lời van xin của các Ki-tô hữu trong nghi thức sám hối
khởi đầu Phụng vụ Thánh Thể: “Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con!”. Chúng ta hãy tin tưởng đến với Chúa Giê-
su. Người đã bảo đảm với chúng ta: Ai xin thì sẽ được; ai tìm thì sẽ thấy; và ai gõ cửa thì sẽ mở cho”.
Xin mời anh chị em lắng nghe Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay, nhất là bài Tin Mừng, để anh chị em nhận ra
được thân phận mỏng dòn, yếu đuối của mình, đồng thời mời gọi anh chị em đặt tin tưởng phó thác vào tình yêu
của Thiên Chúa. Hình ảnh chiếc thuyền bập bềnh giữa biển khơi, nỗi lo sợ của các tông đồ, niềm tin chao đảo của
thánh Phêrô, chính là hình ảnh thân phận con ngươi giữa biển đời trần gian này. Nếu không có đức tin, con người
sẽ chìm sâu trong đau khổ và thất vọng.
Dưới đây là bản tóm tắt nội dung chính cho video Chính Thức Khởi Công Linh Đài Đức Mẹ La Vang: Niềm Vui Cộng Đoàn của kênh Cộng Đoàn Thánh Phaolô Tông Đồ:
Qua việc Chúa làm phép lạ “hóa bánh ra nhiều” Chúa mạc khải cho ta biết quyền phép vô biên và lòng thương yêu
vô cùng của Chúa đối với loài người chúng ta. Chúa luôn quan tâm đến mọi nhu cầu vật chất, tinh thần và tâm linh
của con người. Chúa hy sinh thì giờ, sức khỏe, hy sinh cả những nhu cầu riêng tư để giảng dạy, chữa bệnh phần
hồn, phần xác cho dân chúng. Vậy, chúng ta chạy đến với Chúa, lắng nghe Người giảng dạy, hãy đặt hết niềm tin
tưởng, vững lòng trông cậy, phó thác mọi sự trong tay Chúa, vì Người quyền phép vô biên và yêu thương vô cùng.
Người không nỡ để những ai, khiêm tốn biết chạy đến với Người và hết lòng tin tưởng, phó thác nơi Người phải
đau khổ, ốm đau bệnh tật, đói khát phần hồn phần xác. Chúa sẽ ra tay chữa lành những bệnh tật phần xác, ban lời
hằng sống để chữa lành bệnh tật phần hồn. Ngài ban cho chúng ta của ăn nuôi dưỡng phần xác và mọi nhu cầu
chính đáng trong cuộc sống trần gian........Lời Chúa Giêsu “chính anh em hãy cho họ ăn”. Bởi thế giới hôm nay
còn biết bao người đói khát về mọi mặt: về tâm linh về tinh thần và vật chất. Là kitô hữu, chúng ta có bổn phận
đem Tin Mừng giới thiệu cho người chưa biết Chúa; họ là những người đói khát “đói khát tâm linh”, giúp họ tìm đến
với Chúa, lắng nghe Lời Chúa và được “no say lời Chúa”, được hưởng ơn cứu độ Người ban và được sống hạnh
phúc với Chúa trên Nước Trời. Chúng ta hãy học nơi Chúa gạt bỏ nhu cầu riêng tư để lắng nghe những ai cần
chia sẻ, biết nói lời an ủi, động viên, khích lệ, làm cho cuộc sống của tha nhân được vui tươi phấn khởi. Với
những người nghèo đói vật chất, chúng ta có bổn phận chia cơm sẻ áo, làm phúc bố thí giúp cho người nghèo đói,
những người cô đơn, tàn tật có cơm ăn, có nước uống, người ốm đau có thuốc chữa bệnh. Chúng ta luôn có bổn
phận làm thế giới này bớt đi người đau khổ do thiếu hiểu biết, do chưa biết Chúa, không được lắng nghe Lời Chúa.
Để có hạnh phúc thực sự, cần phải cầu xin Chúa như Salomon: cho được ơn làm chủ bản thân, biết phân biệt tốt
xấu, chọn lựa điều tốt, bỏ điều xấu. Vì tất cả những gì chúng ta hài lòng chưa hẳn đã là tốt. Có ơn phân định, để
nhận ra tiếng Chúa, làm theo kế hoạch của Chúa, như tác giả Thánh Vịnh đã hát: ”Bởi thế nên con yêu quý chỉ thị
Ngài hơn vàng, và hơn cả vàng ròng tinh khiết. Bởi thế nên con tự chọn tất cả huấn lệnh của Ngài; hết thảy
đường lối gian tà con đều ghét bỏ ”. Cần phải có tâm hồn tỉnh thức, sẵn sàng không hời hợt, bốc đồng.
Mọi sự trong thế gian đều tương đối. Thế giới thay đổi. Cuộc sống thay đổi. Sự vật đổi thay. Chế độ chính trị thay
đổi. Con người cũng luôn thay đổi. Không có gì tồn tại mãi. Không có gì tốt hay xấu tuyệt đối ở trần gian này. Con
người sinh ra tính bản thiện, nhưng xác phàm yếu đuối hướng về đàng xấu. Trong con người có cả thiện lẫn ác. Thiện
và ác gắn chặt với bản tính con người .......
Anh chị em thân mến! Phụng vụ Lời Chúa hôm nay kêu mời chúng ta học tập và sống Lời Chúa. Lời Chúa như hạt giống
được gieo vào thế gian, gieo vào tâm hồn chúng ta, Thiên Chúa mong muốn biết bao cho hạt giống ấy sinh sôi nẩy nở,
nhưng có quá nhiều trở ngại, từ bên trong cũng như bên ngoài, khiến cho hạt giống Lời Chúa khó nẩy mầm và lớn lên trong
chúng ta cũng như trong mảnh ruộng thế gian này. Hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta hãy xét mình, do đâu Lời Chúa không
sinh sôi nẩy nở trong đời sống chúng ta? Và mời gọi chúng ta hãy dọn dẹp tâm trí khỏi mọi thứ gai góc, đá sỏi và cỏ hoang
để đón nhận hạt giống Lời Chúa ....... Mặc khải cho biết, khổ đau đi vào thế giới như là hậu quả của tội lỗi “không thể tránh
khỏi“; cũng như trái cấm trong vườn Ê-đen, vì một lời nói dối, khiến con người chống lại Lời sáng tạo, gây nên sự hỗn loạn,
sau cùng cả nhân loại bị hủy diệt. Chỉ có Thiên Chúa, Lời sáng tạo, mới có thể can thiệp để cứu chuộc con người (x. Rm 8)
và tái lập trật tự hài hòa đã được thiết lập ngay từ thuở ban đầu. Chúa phán: “lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với
Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác“ Is 55,11.
Anh chị em thân mến! Mỗi ngày Chúa nhật, chúng ta cùng họp nhau để được Chúa nuôi
dưỡng và dạy dỗ, hầu mạnh sức hơn để dân Chúa tiếp tục sống làm con Chúa giữa trần
gian. Hôm nay, Chúa kêu gọi chúng ta, những người đang gồng gánh nặng nề, hãy đến với
Người để Người bổ sức cho. Vậy chúng ta hãy chú ý lắng nghe Lời Chúa và đón nhận
Mình Máu Người hầu Thánh Lễ sẽ thực sự bổ sức cho chúng ta.